Ngôi Sao May Mắn

Hạnh phúc và bình an trong chúa.

Tấm Gương Sáng

May Mắn, hạnh phúc, vui vẻ, bình an, niềm tin và hy vọng.

Mẹo Vặt Cuộc Sống

Tiết kiệm thời gian và rắc rối nè.

Sản Phẩm

Sản phẩm thiết thực là sản phẩm mọi người muốn và cần.

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

Trang Trại " Quýt Vàng "

Đã bao đời, cái mắt bà con ở huyện vùng cao Bạch Thông (Bắc Kạn) chỉ quen với cây rừng, nên khi khu vườn của gia đình anh Hoàng Văn Danh, xóm Khuổi Cụ, xã Phương Linh cho thu hoạch những quả quýt chín đầu tiên, bà con ngạc nhiên lắm. Vườn cây ăn quả của nhà anh Danh nằm sâu tun hút trong khe Khuổi Pải. "Cách nhà hơn 10 cây số, lúc chưa mua được xe máy, tôi toàn cuốc bộ. Nhà tôi được giao tất cả 9ha đất rừng ở khe Khuổi Pải này, trong đó có 3ha đã được phủ xanh bởi cây ăn quả. Trong vùng này, tôi là người đầu tiên lập được một vườn cây ăn quả như thế" - anh Danh tự hào giới thiệu.

Năm 1997, mặc dù Hội ND huyện giúp anh tham gia một lớp tập huấn kỹ thuật trồng cam, chanh, quýt, rồi lại được đi thăm quan vùng cam Hàm Yên (Tuyên Quang), trồng mơ, mận, nuôi ong ở Yên Bái, nhưng anh vẫn chưa thực sự tự tin, nên về nhà chỉ dám trồng thử. Anh kể: "Giá bán mơ quả lúc bấy giờ cao lắm, tới 12.000 đồng/kg. Tôi dọn một góc sườn đồi thoai thoải ngay sát nhà, rồi đặt cây mơ giống xuống. Nhưng chưa kịp ra quả, thì cây giống cứ còi cọc rồi chết dần. Hỏi ra mới biết, đất này không trồng được mơ.

Không chịu thua, anh quay lại Hàm Yên một lần nữa, vừa bổ túc thêm kinh nghiệm, vừa mua cây quýt giống về trồng. Đã từng khoác áo lính 4 năm, anh bảo việc trồng cây ăn quả của anh được thực hiện theo kiểu "chiến dịch vết dầu loang". Khởi đầu chỉ trồng vài chục cây cứ thế nhân ra nhiều thêm.

Cứ cần cù, kiên nhẫn như thế, cho đến năm 2003, khu vườn đã mở rộng ra 3ha với hàng ngàn cây quýt, cam, chanh... Năm 2003, lần đầu tiên vợ chồng anh có khoản thu trên 40 triệu đồng từ bán quýt, cam, chanh, và hơn 10 triệu đồng từ bán mật ong. Trước kia hoa quả đều phải đưa từ thị xã Bắc Kạn lên và Cao Bằng xuống, nhưng năm ngoái, dân buôn 2 nơi này lại vào tận nhà anh Danh đặt hàng. "Hoa quả có chất lượng, và vùng này còn hiếm nên chẳng lo dân buôn ép giá. Nguồn thu 2 năm đầu mới kéo lại đủ vốn đầu tư trang trải, nhưng tôi biết mình đã thắng, và đã đúng khi chọn mô hình trồng cây ăn quả".

Qua câu chuyện, chúng tôi còn được nghe anh kể về một thời từng đi đào đãi vàng cách đây gần 20 năm. "Vài vẩy vàng kiếm được không đủ tiền thuốc chữa bệnh sốt rét. Ở Khuổi Cụ nay thì chỉ có trồng rừng, trồng cây ăn quả là chắc ăn nhất" - với tư cách là Bí thư chi bộ, Chi hội trưởng chi hội ND, anh Danh thường bày cho bà con như thế.

NTNN (Vietnam Website)

Ông Sáng " Ong "

Ở Bắc Giang có 3 tỷ phú tên Sáng. Và Sáng "ong" là biệt danh mọi người đặt cho ông Hoàng Anh Sáng ở xã Nghĩa Hồ, huyện Lục Ngạn.

Ông là người đầu tiên của tỉnh Bắc Giang đem nghề nuôi ong về nuôi. Năm 1979 - 1980, bằng kinh nghiệm, kiến thức học được sau những chuyến đi thực tế ở Tây Nguyên, ông đã về mua một khu đất để trồng cây ăn quả phục vụ riêng cho việc nuôi ong. Nhưng thời gian đó do thị trường tiêu thụ còn hạn chế, nên ông chỉ túc tắc nuôi vài chục đàn. Năm 1996, khi giống ong ngoại bắt đầu được nhập và đưa về Việt Nam, toàn bộ số đàn ong nội trước đây được ông thay thế bằng các đàn ong ngoại với số lượng lên đến 450 đàn.

Để có chỗ cho đàn ong “đồn trú”, ông đã mua hẳn một trang trại rộng 30ha để trồng vải, nhãn và kết hợp nuôi gà, vịt, cá... "Nuôi ong là nghề cực kỳ vất vả, cứ mỗi mùa lại phải di chuyển chúng đến một địa điểm khác để cho chúng hút nhị hoa. Nếu không thường xuyên di chuyển, ong sẽ không có thức ăn và chết” - ông cho biết. Một năm có 4 mùa thì đàn ong của gia đình ông Sáng phải "vi hành" đi 4 nơi khác nhau. Mùa xuân ong ở tại vườn đón mùa vải, nhãn ra hoa. Sang mùa hạ, ông đưa ong lên Sơn La, Quảng Ninh đón mùa hoa sú vẹt, bạch đàn, hoa mai. Mùa thu, đàn ong quay trở về Hưng Yên "hưởng" mùa hoa táo. Đến mùa đông, ong lại được di chuyển trở về với vùng núi rừng Hoà Bình để hút các loại hoa rừng.

Ông cho biết: "Nuôi ong cần rất nhiều vốn và công đầu tư chăm sóc. Nếu lơ là một chút thì chỉ một đợt dịch bệnh là toàn bộ đàn ong có thể bị xoá sổ". Những bệnh ong thường gặp nhất là rệp, ve, thối ấu trùng, ký sinh trùng, đường ruột.

Khi ong bị nhiễm bệnh cần phát hiện kịp thời và cho ong uống thuốc kháng sinh liều cao để trị bệnh tận gốc. Mỗi đàn ong thường được bố trí từ 100- 150 tổ. Chi phí để đầu tư cho một đàn ong từ 1- 1,2 triệu đồng (gồm thùng, cầu nhốt, đường, giống). Riêng giá một đàn giống ngoại hiện nay, ông phải mua tới 400.000 đồng và riêng lượng đường chúng tiêu thụ mỗi năm khoảng 50kg. Bù lại, ong cho giá trị rất cao, năng suất đạt 40- 50kg mật/đàn/năm. Với giá bình quân 20.000 đồng/kg, mỗi năm ông đã thu về trên 400 triệu đồng tiền bán mật. Không chỉ vậy, hiện nay ông Sáng còn là người cung cấp giống cho cả khu vực miền Bắc.

Trung bình mỗi năm ông cung cấp cho thị trường từ 200- 300 đàn giống. Doanh thu từ nguồn này cũng đem lại cho gia đình ông trên 100 triệu đồng/năm.

NTNN (Vietnam Website)

Tỷ Phú Làng Nem

Cũng không quá lời khi nhiều người thường gọi anh Nguyễn Chiến Sang là tỉ phú làng nem. Bởi anh là một thanh niên trẻ thành đạt, vươn lên làm giàu bằng nghề sản xuất nem truyền thống của đất Lai Vung.

Từ anh bán... ve chai

Những ngày đầu tháng 4-2004, chúng tôi tìm đến Cơ sở sản xuất nem “ Thúy Ngoan” rộng đến 2.000 m2, nằm ven Quốc lộ 80 thuộc khóm 4, thị trấn Lai Vung, huyện LaiVung, tỉnh Đồng Tháp. Anh Nguyễn Chiến Sang, chủ cơ sở còn khá trẻ (SN 1971) nhưng đã có gần 10 năm trong nghề. Trông bề ngoài, Sang chân chất thật thà y hệt như một nông dân “nòi”, chẳng giống ông chủ tí nào, nhưng lại là người có biệt tài làm nem ngon đáo để. Đưa chúng tôi đi thăm cơ ngơi khang trang với gần 100 công nhân tất bật sản xuất ngày đêm, khó mà tin được 10 năm trước anh khởi nghiệp bằng hai bàn tay trắng. Sinh ra trong gia đình nghèo, không được học hành đến nơi, đến chốn, lớn lên Sang mưu sinh bằng cách làm thuê làm mướn. Khi thì mua ve chai , lông vịt, khi thì lặn lội khắp nơi tìm mua phế liệu mang về chợ Lai Vung bán lại kiếm sống qua ngày.

Thế rồi như duyên cớ, Sang được người quen giới thiệu đi giao hàng cho các cơ sở sản xuất nem ở thị trấn Lai Vung. Với chiếc xe đạp cũ kỹ mỗi ngày anh đạp cả trăm cây số xuống Mỹ Thuận, rồi ngược lên phà Cao Lãnh, phà Vàm Cống... vừa bỏ mối cho các đại lý, vừa rao bán lẻ đến tận tối mịt mới về. Bán nem lâu ngày rồi thành “ mê”, tranh thủ lúc rảnh rỗi Sang tìm tòi học cách gói nem, phương pháp pha chế, làm nhân, trộn thịt, quết da... Gần 2 năm học hỏi, khi anh tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong nghề sản xuất nem. Lúc này Sang bàn với vợ nghỉ làm công để mở cơ sở sản xuất riêng.

Chị Thúy - vợ Sang nhớ lại: “ Tài sản của vợ chồng lúc đó chỉ vỏn vẹn 500.000 đồng, trong khi các cơ sở lớn làm không lời huống chi mình vốn ít thì sao trụ được. Ai cũng cho rằng, vợ chồng thằng Sang làm chuyện tào lao, sớm muộn gì rồi cũng mang nợ ngập đầu”. Vốn ít, Sang làm nhỏ. Mỗi ngày chỉ gói khoảng 600 chiếc nem (tương đương 2 kg thịt heo), còn lá chuối, lá vông để gói nem thì anh chạy đi xin các nhà vườn quen biết nhằm tiết kiệm chi phí.

Làm nem xong, anh tự mình chở đi bán bằng xe đạp, có lời bao nhiêu đầu tư làm lớn dần lên và mở thị trường tiêu thụ rộng thêm ra. Chắt chiu, cần kiệm với phương châm “ kiến tha lâu đầy tổ”, chẳng bao lâu Sang có được cơ sở sản xuất nem khang trang nhất ở Lai Vung với số lượng công nhân hàng chục người, khi vào dịp Vía Bà hay Tết Nguyên đán phải huy động đến cả trăm người sản xuất ngày đêm mới đủ cung cấp.

Đến doanh nghiệp bề thế

Anh Lưu Văn Tuấn, Phó Bí thư Huyện Đoàn Lai Vung, nhìn nhận: “ Hành trình đổi đời của thanh niên Nguyễn Chiến Sang ít người bì kịp. Chỉ trong vài năm từ hai bàn tay trắng, giờ đây Sang có cơ ngơi trị giá cả tỉ đồng. Đáng nói hơn, trong lúc một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp lao đao, thì anh biết khắc phục khó khăn vươn lên làm giàu bằng nghề sản xuất nem truyền thống. Đây chính là gương điển hình tiêu biểu nhất của phong trào thanh niên lập nghiệp ở Lai Vung”. Không dừng lại ở nghề sản xuất nem, Sang mua thêm đất đào ao nuôi cá và nuôi heo. Đàn heo hàng trăm con, giúp anh chủ động được nguồn nguyên liệu trong việc làm nem, không còn bị động những lúc thịt heo lên giá.

Nắm bắt nhu cầu của du khách qua lại trên Quốc lộ 80, ngoài việc ghé lại mua nem, nhiều người muốn tận mắt xem sản xuất nem tại chỗ và dừng chân nghỉ ngơi, tham quan, ăn uống... Gần đây, Sang mạnh dạn đầu tư thêm gần 800 triệu đồng mua sắm trang thiết bị hiện đại và mở rộng qui mô sản xuất. Toàn bộ qui trình sản xuất nem được làm trong phòng kiếng sạch sẽ, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh. Bên cạnh đó, anh mở thêm quán ăn, buôn bán các loại bánh kẹo, trái cây, quà lưu niệm và nhiều mặt hàng phục vụ đầy đủ các nhu cầu du khách đến làng nem. Với cách làm mới này, du khách xa gần ghé vào mua nem và nghỉ ngơi tăng vọt.

Nếu như trước đó mỗi ngày cơ sở chỉ tiêu thụ được khoảng 5.000 - 7.000 chiếc nem lớn nhỏ, giờ đây số lượng tiêu thụ tăng lên 10.000 - 12.000 chiếc, những ngày đắt đến 15.000 - 20.000 chiếc. Đặc biệt, từ nay đến Lễ hội Vía Bà ở Châu Đốc, du khách qua lại QL 80 ghé mua nem còn tăng hơn. Cộng với buôn bán các mặt hàng khác, mỗi năm Sang thu lời từ 100 - 200 triệu đồng.

Cơ sở sản xuất nem ngày càng ăn nên làm ra, khách hàng từ các tỉnh xa tìm đến càng nhiều, nhưng Sang nhất quyết không tăng giá nem mà trái lại liên tục đầu tư chế biến chiếc nem ngày càng ngon hơn. Hạn chế của chiếc nem trước đây là thời gian bảo quản rất ngắn, chỉ kéo dài được 3- 4 ngày, do đó khi gặp những lúc mưa bão nem không bán hết sẽ bị hư toàn bộ dẫn đến lỗ lã. Sau thời gian tìm tòi áp dụng nhiều biện pháp chế biến mới, chọn da heo và thịt nạc loại tốt, đến nay chiếc nem có thể bảo quản kéo dài từ 6 - 7 ngày mà vẫn giữ được độ chua và rất ngon.” Phải có thương hiệu hàng hóa thì mới đưa chiếc nem truyền thống đi xa hơn và tăng sức cạnh tranh trên thị trường”-Sang quả quyết như vậy.

Thế là anh phối hợp cùng với các cơ sở lân cận lặn lội lên tỉnh đăng ký thủ tục, xây dựng thương hiệu nem Lai Vung. Và gần 2 năm nay nhãn hiệu nem Lai Vung “ Thúy Ngoan” được các ngành chức năng công nhận và nhiều khách hàng ủng hộ.

Thành công trong nghề sản xuất nem, Nguyễn Chiến Sang được kết nạp vào Hội doanh nghiệp trẻ tỉnh Đồng Tháp, được chọn đi báo cáo ở nhiều Hội nghị điển hình về phong trào thanh niên sản xuất, kinh doanh giỏi cấp tỉnh và khu vực. Từ người bán ve chai, giờ trở thành “ triệu phú” trẻ nhất ở làng nem Lai Vung, nhưng Sang vẫn sống hòa đồng bình dị với mọi người, thích tham gia nhiều phong trào thanh niên và nhiệt tình đóng góp công sức vào việc làm xã hội. Sang tâm sự: “Lớn lên trong nghèo khó, nên mình thấu hiểu và luôn đón nhận những thanh niên nông thôn khó khăn vào làm ở cơ sở. Giúp được họ có công ăn việc làm ổn định cuộc sống mình thấy vui lắm. Đặc biệt, góp phần khôi phục và phát triển nghề sản xuất nem truyền thống ở quê hương”.

HUỲNH LỢI - Báo Cần Thơ

Trở Thành Tỷ Phú Nhờ Xuất Khẩu Mơ Muối

Ông Nguyễn Bá Đường ở thôn Đồng Nhân, xã Đông La, huyện Hoài Đức (Hà Tây), nhiều người biết đến, là điểm sáng trong vùng vì có chí làm giàu. Quả mơ mua từ Bắc Kạn, Lào Cai, Lạng Sơn, Hòa Bình... ông dầy công nghiên cứu chế biến thành ô mai mơ là mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản.

Năm 1988, là một cán bộ Ngành ngân hàng tỉnh Hà Tây về hưu sớm, ông Đường đã mầy mò trong nghề trám muối, chanh muối, mơ muối để bán trong nước. Năm 1998, lô hàng mơ muối đầu tiên xuất khẩu sang Nhật Bản, bị khách hàng khó tính chê về chất lượng chế biến, nhất là khâu vệ sinh an toàn thực phẩm chưa bảo đảm... Khách hàng chỉ thanh toán 1/3 số tiền so với hợp đồng. Cho đến nay số lượng mơ muối xuất khẩu sang Nhật Bản đã tăng dần, từ 12 tấn lên 90 tấn và năm nay là 125 tấn.

Chính từ sự tăng trưởng không ngừng ấy mà vốn lưu động của gia đình ông từ vài trăm triệu, đến nay đã tăng lên vài tỷ đồng, riêng lô hàng chất lượng cao của năm 2003 có giá trị doanh thu 3,76 tỷ đồng. Mặt bằng xưởng SX lúc đầu có 750 m2, nay đã mở rộng ra gần 3000 m2, hệ thống bể mơ muối lúc đầu có 48 m2 đến nay đã xây dựng thêm gần 220 m2.

Qua câu chuyện với ông Đường, ông cho biết: để quả mơ muối có khẩu vị hợp với người Nhật Bản, thì quả mơ phải đạt được tiêu chuẩn phía Nhật Bản yêu cầu là vỏ quả mơ phải nhăn đều, thớ thịt quả mơ không xoắn cong, mã quả phải đẹp, tuyệt đối không sạn, không nhiễm khuẩn. Để đạt được tiêu chuẩn trên khi phơi mơ phải phơi trong bóng râm, nếu phơi nắng phải có phên che, để vỏ quả mơ không cháy xám, không nhăn nheo quá mức, phơi mơ trên nong sạch, có vải trắng lót để đảm bảo vệ sinh, chân tay người SX lúc nào cũng sạch. Do đó sản phẩm mơ muối của ông Đường đã ngày càng ăn khách, vừa qua một số tờ báo của Nhật Bản đã có những bài viết ca ngợi.

Không dừng lại ở đây, ông Đường đã nghiên cứu tiếp để từ năm 2004 vừa tiếp tục xuất mơ muối số lượng lớn vừa ký hợp đồng những mặt hàng mới như: “Mơ nướng”, chế biến “bột mơ”, sản xuất “ớt xanh ngâm xì dầu”... Trong những năm qua, ông Đường đã góp phần giải quyết việc làm cho từ 150 - 170 lao động nông nhàn của xã, mức lương từ 540.000 đ - 800.000 đ/tháng, đó là chưa kể mỗi năm ông đã tiêu thụ hàng ngàn cái nong tre, hàng ngàn tấm phên đan của huyện Ứng Hòa, Hà Tây.

Khi tiếp xúc với ông Watsusavtsuo, một khách hàng Nhật Bản, ông cho biết: “Món mơ muối Việt Nam của ông Đường xuất sang là thực phẩm hiếm của khách hàng Nhật Bản, nhà nào giàu mới có mơ muối thường xuyên trong bữa ăn hàng ngày. Các cô gái Nhật Bản mê mơ muối Việt Nam vì nó đã giúp cho tiêu hóa tốt, không phải dùng nhiều mỹ phẩm, nước da vẫn đẹp một cách tự nhiên, đầy quyến rũ...”.

Đến thăm xưởng chế biến, thăm “biệt thự” giữa làng quê ấm áp tình người của ông Nguyễn Bá Đường tại Đồng Nhân, Đông La, mọi người đều thán phục, bởi một nông dân đã trở thành tỷ phú từ quả mơ muối xuất khẩu sang Nhật Bản.

NNVN (Vietnam Website)

Tỷ Phú Măng Cụt Cầu Kè

Thời gian qua, trong khi nhiều loại trái cây mất giá khiến nhà vườn lao đao thì ở huyện Cầu Kè tỉnh Trà Vinh có một nông dân trở thành tỷ phú nhờ thâm canh có hiệu quả 500 gốc măng cụt… Cách đây 6 năm tại Hội thi trái ngon ĐBSCL tổ chức ở tỉnh Tiền Giang, măng cụt huyện Cầu Kè (tỉnh Trà Vinh) vượt qua mặt “anh hào” Vĩnh Long, Bến Tre, Cần Thơ… đoạt giải nhất đồng bằng. Một trong những người tiên phong có công đưa cây măng cụt Cầu Kè lên ngôi là ông Năm Nhành (Võ Văn Nhành) ở cù lao Tân Qui, xã An Phú Tân.

Anh Tư Bé, Phó Chủ tịch Hội Làm vườn tỉnh Trà Vinh, người nhiều năm gắn bó với vùng đất cù lao giàu tiềm năng hoa thơm trái ngọt này cho biết: 5 năm gần đây nhà vườn trồng chôm chôm, nhãn, sầu riêng, sabôchê... Cù lao Tân Qui trúng mùa, nhưng do giá cả đầu ra bấp bênh nên đời sống bà con lao đao, trong khi đó vườn măng cụt của gia đình ông Năm Nhành 5 năm liền trúng mùa trúng giá, mỗi năm thu lãi trên 200 triệu đồng.

Thừa hưởng nguồn lợi kinh tế cây măng cụt do ông Năm Nhành trồng cách đây hơn 30 năm, anh Lưu Văn Nhiều, người con rể đang quản lý chăm sóc 2,5 ha măng cụt kể: Trong một chuyến tham quan du lịch các tỉnh miền Tây, cha vợ tôi mang về 5 cây măng cụt trồng thử ở vườn nhà, sau hơn 10 năm trồng cây cho trái và từ đó gia đình nhân giống lên được 500 cây.

Hiện nay trong số này có hơn 250 gốc trên 25 năm tuổi đang thời kỳ sung sức, mỗi năm cho sản lượng trái hơn 14 tấn, chỉ tính bình quân giá bán từ 20-25 ngàn đồng /kg, sau khi trừ chi phí gia đình thu lãi gần 250 triệu đồng. Đặc biệt trong số cây ấy có 1 gốc trên 50 năm tuổi cho sản lượng trái 0,4 tấn/năm, tương đương hơn 8 triệu đồng.

Măng cụt càng nhiều năm tuổi cho sản lượng trái càng tăng. Hàng năm mỗi khi vào vụ thu họach, vườn măng cụt của gia đình anh Út Nhiều thu hút các nhà vựa, thương lái ở Cần Thơ, Vĩnh Long, TPHCM, tìm đến tận nơi thu mua đóng kiện xuất khẩu sang Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản…

Hiện nay các nhà vườn ở huyện Cầu Kè đã cải tạo các giống cây trồng hiệu quả thấp chuyển sang trồng chuyên canh và xen canh hơn 110 ha măng cụt. Anh Đào Văn Nguyên, Chủ tịch Hội Nông dân xã An Phú Tân lạc quan: Sau nhiều năm lâm vào cảnh được mùa mất giá, giờ đây bà con nhà vườn quan tâm nhiều hơn việc chọn cây cho đất. Trước nhất là xem xét trồng cây gì, bán ở đâu, giá trị kinh tế ra sao rồi mới quyết định chọn gốc cây.

Theo định hướng phát triển kinh tế vườn ở địa phương, từ nay đến năm 2010, ngoài cây nhãn xuồng cơm vàng, sầu riêng cơm vàng hạt lép, sầu riêng Mongthong, cây măng cụt là mục tiêu phát triển lâu dài tạo ra giá trị hàng hóa lớn phục vụ xuất khẩu.

Hội làm vườn tỉnh và ngành nông nghiệp huyện đang xúc tiến hỗ trợ kỹ thuật, vốn, giống chất lượng cao cho bà con mở rộng diện tích thâm canh. Hội nông dân vận động khuyến khích nhà vườn liên kết xây dựng hợp tác xã măng cụt để sớm hình thành thương hiệu sản phẩm, đưa cây măng cụt địa phương vươn xa hơn thị trường trong và ngoài nước.

Trước xu hướng cạnh tranh của nền kinh tế hội nhập, để không thua ngay trên sân nhà, hơn lúc nào hết, nhà vườn cần có cách nhìn mới, tư duy mới trong việc chọn giống cây trồng, xây dựng thương hiệu sản phẩm, mở rộng thị trường tiêu thụ. Chất lượng sản phẩm sạch là yếu tố sống còn thời kinh tế mở.

ĐÌNH CẢNH - SGGP

Vua Lộc Vừng

Từ Hà Nội đi dọc theo QL 32 khoảng hơn 40 km thì đến khu trang trại sinh vật cảnh của bác Nguyễn Văn Tỏ ở thôn Cung Sơn, xã Tích Giang (Phúc Thọ - Hà Tây). Người dân ở đây quen gọi bác Tỏ với cái tên "ông vua lộc vừng", bởi lẽ khu vườn sinh thái rộng trên 1 mẫu đất có bạt ngàn cây lộc vừng và các loại cây cảnh khác có tuổi đời từ một vài năm cho đến hàng trăm năm. Mỗi năm nguồn thu từ cây cảnh, bác cũng được trên 100 triệu đồng.

Là người lính, bác Tỏ đã từng cùng đồng đội nhiều lần "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".Những năm tháng gắn bó với rừng, bác biết rất nhiều loại cây. Nhưng có lẽ chỉ cây lộc vừng đã làm bác mê đắm, hút hồn trước vẻ đẹp của nó. Lộc vừng đẹp nhờ bộ rễ dày, gân guốc như lực sỹ và nở những chuỗi hoa dài, màu đỏ, thật quyến rũ. Cây lộc vừng cứ ám ảnh bác mãi trong những chặng đường hành quân cũng như lúc bác xuất ngũ trở về địa phương.

Với ý thức bảo vệ những cây lộc vừng cổ thụ đang bị mất dần trong những cánh rừng đại ngàn do nạn săn cây cổ thụ, bác Tỏ đã nảy ra ý tưởng trồng cây lộc vừng tại vườn nhà mình rồi ươm giống cây con phục vụ người chơi cây cảnh. Bác mạnh dạn mua khu vườn cạnh đường QL32 rộng trên 1 mẫu để trồng lộc vừng. Bác Tỏ lặn lội vào tận vùng Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An tìm những cây lộc vừng đã bị người dân đào bới khai thác trôi nổi để thu mua.

Hiện tại, trong vườn nhà bác Tỏ có gần 200 cây lộc vừng, có cây tuổi đời chỉ vài năm, có cây trên 100 năm, gốc to một người ôm không xuể. Bác chọn những cây lộc vừng nhiều tuổi nhất cho ra hoa, kết trái để lấy hạt ươm trồng. Cây lộc vừng từ khi trồng, trong vòng khoảng 2-3 năm là cây có tán, có hoa và có thể bán được. Cây đẹp (cây được tạo thế) có giá trị từ 1 triệu đến vài triệu đồng. Còn loại cây thường (cây 1 thân) thì giá từ 1 triệu đổ lại. Loại lộc vừng cổ thụ thì giá từ vài chục triệu đến cả trăm triệu đồng. Nhưng trồng được một cây lộc vừng cổ thụ thì mất cả đời người, thậm chí hai, ba đời. Lộc vừng cũng là loài cây dễ tính, tuy nhiên người trồng cũng phải hiểu được đặc điểm lâm sinh của cây. Khi mua cây phải đánh cả bầu đất sau đó ủ cát xung quanh ươm cây cho rễ non ra rồi mới đem trồng. Thời điểm lộc của cây bắt đầu bật ra thì phải có lưới đen che nắng, che sương cho lộc non đẹp không bị táp lá.

Bác Tỏ cho biết: Hiện nay,lộc vừng đang là "mốt" của những người chơi cảnh. Nhiều người quan niệm lộc vừng trổ ắt lộc sẽ đến, ở gia đình thì họ thường mua những cây lộc vừng trồng ở chậu. Còn các trang trại sinh thái, Cty thì "sính" cây cổ thụ hơn. Nhưng cây lộc vừng cổ thụ bây giờ rất hiếm, bởi nạn tàn phá rừng nhiều. Trong vườn nhà bác Tỏ cũng chỉ còn 60 cây lộc vừng có tuổi từ 60 đến trên 100 năm, hôm nào cũng có người đến hỏi mua, có người trả hàng trăm triệu đồng một cây nhưng bác Tỏ không bán, bác bảo để làm giống. Mỗi năm bác bán ra thị trường khoảng 100 cây lộc vừng giống.

Ngoài cây lộc vừng, trong vườn nhà bác Tỏ còn trồng trên 100 cây cảnh, cổ thụ các loại như: Sung, si, đa, sữa, cọ, cau vua... Nhưng nguồn thu chính trong vườn nhà bác vẫn là bán giống cây lộc vừng (chủ yếu cây từ 2-7 năm tuổi). Hiện tại, bác Tỏ đang có ý mở rộng vườn trồng lộc vừng để nhân rộng giống cây cảnh quý này, tạo điều kiện cho người chơi cây cảnh có cây mà không phải phá rừng.

NNVN (Vietnam Website)

Đổi Lục Bình, Bẹ Chuối Lấy ... Ngoại Tệ

Chỉ từ những chiếc chiếu, chiếc đèn ngủ, tủ bếp... làm từ lục bình, bẹ chuối, mỗi năm đã đem về cho cơ sở thủ công mỹ nghệ “Vĩnh Thịnh” của ông Triệu Vĩnh Thịnh ở đường Mậu Thành, TP. Mỹ Tho (Tiền Giang) cả triệu đô la.

Ông Thịnh kể: "Có lẽ tôi có duyên với những loại cây dân dã này". Trước khi đến với lục bình, ông đã "kết bạn" với cây chuối. "Nhìn những bẹ chuối bị vứt bỏ, tôi thấy tiếc lắm. Phải làm gì đó để khỏi phí hoài “mỏ bẹ chuối” trời cho”. Rồi ông thử lấy sợi của bẹ chuối để làm giỏ xách. Sau chiếc giỏ xách, hàng loạt sản phẩm bằng bẹ chuối khác như: võng, giày dép, ghế ngồi... lần lượt ra đời bởi đôi bàn tay tài hoa của ông già trên 70 tuổi. Ông đem những “đứa con tinh thần” của mình lên TP. Hồ Chí Minh tiếp thị. Sản phẩm của ông nhanh chóng được nhiều cửa hàng đặt mua với số lượng lớn. Nhiều nơi còn đặt ông làm hàng theo mẫu. Từ TP. Hồ Chí Minh, những vật dụng xinh xắn như đĩa đựng ly, chụp đèn ngủ, tách, hộp đựng đồ trang sức... giá vài cent đến những chiếc chiếu, giỏ xách, tủ bếp... giá vài chục đô la của ông đã bay sang tận châu Âu, châu Á...

Không chỉ dừng lại ở những sản phẩm bằng bẹ chuối, ông tiếp tục tung ra thị trường những chiếc võng, giỏ xách... bằng lục bình. Ông cho biết: Sản phẩm thủ công muốn cạnh tranh và xuất khẩu được không chỉ đẹp về hình thức mà chất lượng phải tốt. Chẳng hạn những đôi giày làm bằng nguyên liệu lục bình của ông vừa nhẹ, vừa mát mà còn có tác dụng về mặt y học nên khách hàng rất ưa chuộng. Hay như chiếc võng làm từ bẹ chuối có tác dụng hút nhiệt nên người nằm áo không bị dính mồ hôi... Để có được những sản phẩm này, theo ông công đoạn xử lý nguyên liệu là quan trọng nhất. Lục bình vớt từ dưới sông lên hoặc trồng phải có độ dài tối thiểu 50cm, gốc phải trắng, không dính phèn. Trước khi đem phơi khô phải cắt bỏ toàn bộ rễ, lá sau đó mới sơ chế.

Ông cho biết, nhu cầu về mặt hàng thủ công từ bẹ chuối, lục bình còn rất lớn. Năm 2001, sản phẩm của cơ sở ông đã có mặt ở Nhật, Pháp, Anh, Đức, Hà Lan... và đã đem về cho ông gần 1 triệu đô la. Năm 2002, doanh thu tăng lên 1,2 triệu đô la. Nhưng điều quan trọng hơn cả là cơ sở “Vĩnh Thịnh” đã tạo công ăn, việc làm cho gần 2.000 lao động, trong đó đa phần là nghèo, không có nghề nghiệp. Ông cho biết, trước khi vào làm việc cho ông, họ sẽ được hướng dẫn cách làm. Khi đã thành thạo tay nghề, ông sẽ ký hợp đồng lao động với họ.

NTNN (Vietnam Website)